Thủy Lợi – Thủy Nông (2)

Với kinh nghiệm trên 20 năm nghiên cứu về kỹ thuật cải tạo đất chua phèn, PGS TS Vương Đình Đước đã cho ra đời 2 quyển sách:

  1. Cải tạo đất phèn ở Đồng bằng sông Cửu Long – Tác giả: PGD TS Vương Đình Đước và KS Phan Khánh, được Nhà xuất bản Nông nghiệp phát hành năm 2006.
  2. Kỹ thuật cải tạo đất phèn Đồng bằng sông Cửu Long – Tác giả: PGS TS Vương Đình Đước, được Nhà xuất bản Nông nghiệp phát hành năm 2021.

Xin giới thiệu đến Quý bạn đọc lời nói đầu của PGS TS Vương Đình Đước về quyển sách “Kỹ thuật cải tạo đất phèn Đồng bằng sông Cửu Long – Tác giả: PGS TS Vương Đình Đước, được Nhà xuất bản Nông nghiệp phát hành năm 2021.”

LỜI NÓI ĐẦU

Miền Nam nước ta hoàn toàn giải phóng đã hơn 30 năm. Hồi ấy ai đã từng đi qua tuyến đường Cai Lậy – Mộc Hóa, hay Rạch Giá – Hà Tiên dài hàng ba bốn chục cây số, đều thấy vùng đất rộng mênh mông. Dọc hai bên đường là cánh đồng hoang cỏ mọc um tùm, nhìn xa chỉ thấy chân trời. Thỉnh thoảng mới có túp lều hoặc bóng cây. Đó là vùng đất phèn ở Đồng bằng sông Cửu Long, mà phân bố nhiều nhất ở Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên.

Việc khai hoang mở rộng diện tích để tăng vụ, tăng năng suất và sản lượng cây trồng ở vùng đất phèn này, là vấn đề được các nhà khoa học trong và ngoài nước rất quan tâm giải quyết, để làm sao sử dụng và cải tạo có hiệu quả nhất.

Việc đào kênh ở vùng đất phèn để dẫn ngọt tiêu chua, trước đây cũng có nhiều ý kiến khác nhau: người thì ủng hộ, người thì sợ mỏ phèn xì lên làm cho nguồn nước chua thêm. Ngay cả nhà khoa học cải tạo đất có tên tuổi của Hà Lan có quan hệ gần gũi với chúng tôi cũng khuyên không nên đào kênh vào Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên. Vì làm như vậy chẳng khác gì húc đầu vào đá. Song rất mừng là ngành thủy lợi đã chứng minh được tác dụng của hệ thống kênh mương: làm đổi thay vùng đất phèn thành những cánh đồng lúa bội thu. Điển hình ở Đồng Tháp Mười là con kênh Hồng Ngự đưa nước từ sông Tiền vào tưới cho hàng chục ngàn héc-ta đất, diện tích canh tác nông nghiệp ngày càng được mở rộng.

Từ năm 1980 đến nay Viện Nghiên cứu Khoa Thủy lợi (NCKHTL) Nam Bộ đã thực hiện một số đề tài v.v…. Đã góp phần làm nên những kết quả to lớn trong cải tạo đất phèn về diện và chất, đóng góp không nhỏ cho chương trình sản xuất lúa của ĐBSCL.

Nhưng cải tạo đất phèn là một việc làm lâu dài và thường xuyên, không thể nói là “khó nhọc một lần, sung sướng lâu dài”, loại bỏ được phèn ra khỏi đất vĩnh viễn. Theo tính toán của các chuyên gia, với khả năng cải tạo như hiện nay, mỗi năm ta có thể rửa trôi tống tháo ra biển bình quân cho 1 ha là: 2,307kg Fe3+, 11,920kg Al3+ và 22,693kg SO4-2. Với mức độ đó, muốn loại bỏ hết số lượng phèn đã tích tụ trong lớp đất mặt dày từ 0-100 cm, cũng phải mất đến hàng chục thế kỷ liên tục.

Vì vậy, thau chua rửa phèn chẳng những là việc làm thường xuyên theo thời vụ mà còn phải luôn luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật, nâng cao công nghệ.

PGS. TS.Vương Đình Đước là một trong những nhà nghiên cứu lâu năm về cải tạo đất phèn, thuộc Viện Khoa học Thủy Lợi Nam Bộ, đã trực tiếp thực hiện các mô hình thực nghiệm tại trạm Tân Thạnh (Long An) trong dự án của Ủy ban sông Mekong Quốc tế và các Báo cáo tổng kết khoa học. Tích lũy về lý luận và kinh nghiệm trong nhiều năm, đồng thời tham khảo lý luận và kinh nghiệm của các tác giả ở cơ quan khác, PGS. TS.Vương Đình Đước đã biên soạn cuốn: “Cải tạo đất phèn ở Đồng bằng sông Cửu Long”, coi như là một tài liệu chuyển giao khoa học công nghệ cho bạn nhà nông. Đồng thời cũng cung cấp lý luận và kinh nghiệm cho các nhà khoa học đang quan tâm đến vấn đề này tham khảo.

Đó là một lĩnh vực mới mẻ đối với chúng tôi, và ngay cả các nhà khoa học trên thế giới đã đi sâu nghiên cứu về đất phèn, cũng còn gặp không ít những khó khăn. Với lòng say mê nghề nghiệp, tập thể cán bộ khoa học của Viện đã bám trụ cơ sở, xây dựng trạm, trại và khu thực nghiệm ở Mỹ Lâm (Tứ giác Long Xuyên), Tân Thạnh (Đồng Tháp Mười). Chúng tôi vừa triển khai thực nghiệm, vừa tổng kết kinh nghiệm của nông dân sản xuất giỏi, kết quả đến đâu phổ biến đến đó, được nông dân áp dụng đưa ra đại trà. Nhờ đó đã góp phần cùng với nông dân ở đây tăng điện tích đất khai hoang để trồng hai vụ lúa đạt năng suất vụ đông xuân 4-5tấn /ha, vụ hè thu 3-3,5tấn /ha.

Để đạt được kết quả nói trên, qua nhiều năm nghiên cứu và tổng kết, chúng tôi đã rút ra biện pháp sử dụng và cải tạo đất phèn, phục vụ sản xuất nông nghiệp, đem lại hiệu quả kinh tế cao, đóng góp không nhỏ kế hoạch xuất khâu gao cho cả nước, trong giai đoạn hiện nay và tương lai.

Cuốn “Cải tạo đất phèn ở đồng bằng sông Cửu Long” không những là cuốn sách có ích cho người nông dân trên vùng đất phèn Nam Bộ, mà còn là cuốn sách tham khảo quý giá cho những người nông dân sản xuất trên loại đất phèn tương tự, ở khắp các châu lục khác trên thế giới.

Trong quá trình biên soạn, không thể nào tránh khỏi thiếu sót, mong được sự góp ý chân thành của bạn đọc gần xa.

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *